Tìm kiếm Blog này

Thursday, 5 October 2017

NGHĨ LẠI VỀ TRÍ THÔNG MINH VÀ CÁCH HỌC TẬP


- Nghiên cứu của các nhà tâm lý học kinh viện đã tạo điều kiện giúp thoát khỏi lối nghĩ cũ và mang lại hiểu biết mới về trí thông minh. Trong quá khứ các học giả đã gói gọn trí thông minh vào một con số, xem đó là đơn vị đo lường và trao cho nó một cái tên là chỉ số thông minh, gọi tắt là IQ. Và rồi họ tiến hành so sánh con người với nhau theo nhóm tuổi bằng thước đo này. Thế nhưng, dầu còn vấp phải những bất đồng, một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng trí thông minh thì sâu rộng hơn thế nhiều. Nhưng dù sao thì cũng có nhiều học giả sử dụng từ "trí thông minh" để biểu thị cho nhiều năng lực trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Kết quả là một sự bùng nổ các định nghĩa về trí thông minh.



- Nhà tâm lý học Howard Garner của Đại học Harward là người đi tiên phong trong lĩnh vực về trí thông minh đa dạng. Đầu thập niên 1980, Gardner lần đầu tiên đưa ra ý kiến rằng có nhiều loại trí thông minh, khi ông ta giới thiệu "lý thuyết về đa thông minh (theory of multiple intelligences)." Nhìn qua các định nghĩa về trí thông minh và sơ đồ phân loại của Gardner sẽ cho thấy người ta có những điểm mạnh khác nhau đến nhường nào, và cũng cho thấy làm thế nào kinh nghiệm học tập có thể được "đo ni đóng giầy" cho những khác biệt này. Dưới đây là cách mà Gardner định nghĩa trí thông minh:
- Khả năng giải quyết vấn đề người ta gặp phải trong đời thực.
- Khả năng tạo ra những vấn đề mới để giải quyết.
- Khả năng làm ra điều gì đó hoặc đưa ra một dịch vụ được xem là có giá trị trong một nền văn hóa.

- Định nghĩa đó đã thoát khỏi cái gò bó hạn hẹp của chỉ số điểm IQ. Khi nghiên cứu năng lực trí tuệ, Gardner đã lập ra các tiêu chuẩn để giúp ông xác định liệu một tài năng mà mọi người có thể thấy rõ có thực sự là một loại trí thông minh riêng biệt hay không, và vì thế, liệu nó có xứng đáng đứng một chỗ riêng trong sơ đồ phân loại của ông hay không. Tiêu chuẩn của Gardner là "mỗi loại trí thông minh phải có những đặc điểm phát triển khác nhau, có thể được một tập thể nào đó thừa nhận là tài năng hay ưu tú, cung cấp chứng cứ có khu trú trên não bộ, đáp ứng được một hệ thống biểu trưng hoặc hệ thống chỉ dấu". Từ tiêu chuẩn này, ban đầu Gardner đưa ra 7 loại trí thông minh riêng biệt, sau đó ông còn thêm một loại thứ 8 vào danh sách và đang cân nhắc đưa thêm một số loại khác nữa.
* Sau đây là 8 loại trí thông minh của Gardner, được định nghĩa ngắn gọn và mỗi loại có một nhân vật tiêu biểu minh họa:
1. Ngôn ngữ: Khả năng suy nghĩ bằng từ ngữ và sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt những ý nghĩa phức tạp: Walt Whitman

2. Logic và toán học: Khả năng tính toán, định lượng, phân tích các mệnh đề và giả thiết, giải các bài toán phức tạp: Albert Einstein

3. Không gian: Khả năng suy nghĩ theo không gian ba chiều; cảm nhận hình ảnh bên trong và bên ngoài; tái tạo, chuyển đổi hoặc chỉnh sửa hình ảnh; tự định hướng bản thân và các vật thể trong không gian: Frank Lloyd Wright

4. Thể chất: Khả năng điều khiển các vật thể và khéo léo điều khiển các khả năng về thể chất: Michael Jordan

5. Âm nhạc: Khả năng phân biệt và sáng tạo ra những cao độ, giai điệu, nhịp điệu và thanh điệu: Wolfgang Amadeus Mozart

6. Giao tiếp: Khả năng hiểu và giao tiếp dễ dàng hiệu quả với những người khác: Mẹ Teresa

7. Nội tâm: Khả năng xây dựng sự tự nhận thức chính xác, và dùng kiến thức này để hoạch định và điều khiển cuộc sống của chính mình: Sigmund Freud

8. Tự nhiên: Khả năng quan sát các kiểu mẫu trong thiên nhiên, nhận dạng và phân loại các vật thể, thấu hiểu các hệ thống tự nhiên và nhân tạo: Rachel Carson

- Điều này liên quan gì đến việc dạy và học? Khi một phương pháp giáo dục trùng khớp với loại trí thông minh mạnh nhất hoặc năng khiếu của một người, thì người đó hiểu vấn đề dễ dàng hơn, học hăng hái hơn. Nói cách khác, việc học có thể được thúc đẩy theo bản năng nội tại. 

- Gardner và những nhà khoa học khác đã nghiên cứu cách dạy những tài liệu học tập khác nhau để phù hợp với từng loại trí thông minh. Trong cuốn sách Teaching and Learning through Multiple Intelligence (Dạy và học thông qua đa thông minh) các tác giả Linda Campell, Bruce Campell và Dee Dickinson đã trình bày điều này qua câu chuyện kể về một học sinh nữ học rất yếu kém, bị ở lại lớp đến vài năm tại trường. Càng gặp khó khăn trong học tập, em càng ghét đến trường - và lòng tự tin của em cũng suy sụp hẳn. Khi bước vào năm lớp 6, người giáo viên mới quan sát thấy em học sinh này đi đứng mới duyên dáng làm sao, từ đó nảy sinh ý nghĩ liệu em có thể học qua những bước di chuyển hay không. Không phải là một chuyên gia phân loại về trí thông minh, nhưng người giáo viên ấy vẫn thấy được rằng cô bé có năng lực cao về trí thông minh thể chất. Cô bé không chịu đọc, viết hay đánh vần, nhưng theo linh cảm của mình, người giáo viên gợi ý cho em "sáng tạo ra một bảng mẫu tự chuyển động, dùng cơ thể mình để tạo hình toàn bộ hai mươi sáu chữ cái.". Ngày hôm sau, cô bé chạy ào vào lớp trước khi giờ học bắt đầu, như có điều gì muốn khoe với giáo viên vậy. Em nhúng nhảy theo điệu từng chữ cái trong bảng chữ cái và cuối cùng sâu chuỗi toàn bộ hai mươi sáu chữ thành một màn biểu diễn thống nhất. Rồi em đánh vần họ và tên của mình thông qua các điệu nhảy chữ cái. Đêm hôm đó, em ở nhà tập đánh vần... qua khiêu vũ, và biểu diễn vũ điệu của mình cho các bạn cùng lớp xem vào hôm sau. Chẳng mấy chốc, em bắt đầu viết được ngày càng nhiều hơn: đầu tiên em sẽ nhúng nhảy điệu của chúng; sau đó viết lại. Điểm viết của em cao lên, và sự tự tin cũng vậy. Chỉ ít tháng sau, em học sinh này không còn cần phải khiêu vũ các con chữ khi đánh vần nữa: cách học theo thế mạnh là trí thông minh thể chất đã hoàn toàn mở toang cánh cửa đọc và viết cho em. Bất kể con đường đời em theo đuổi sau này là gì thì những kỹ năng cơ bản này (đọc và viết - ND) đều vẫn rất quan trọng.

- Nghiên cứu của Gardner cho thấy rằng, dù hầu hết mọi người đều có chút năng lực trong mỗi loại trí thông minh thuộc số tám loại kể trên, nhưng hầu hết cũng chỉ nổi trội ở hai hay ba loại mà thôi. Nghiên cứu này - với hàm ý rằng cần sắp xếp những cơ hội học tập tùy theo điểm mạnh của các cá nhân - cũng như ý là không nên tùy tiện "phân loại" trí thông minh cho người khác, cũng như không phát triển toàn bộ các loại trí thông minh của họ.

- Bên cạnh đó, những khác nhau về các loại trí thông minh này chỉ là một phần của khả năng nhận thức. Bên trong mỗi loại trí thông minh, có thể có những ưu tiên học hỏi (learning preferences) khác nhau. Một vài học sinh trước khi hiểu một khái niệm cần phải chép lại, phát triển, thảo luận v.v... Cho dù còn có tranh cãi về ý kiến này, cũng xin nói rõ ra ở đây rằng: một người về trực quan có thể học tốt nhất theo một loại trí thông minh - bằng cách nhìn hình ảnh hay đọc mặt chữ - thì chưa chắc đã học tốt khi sử dụng một loại hình thông minh khác. Cuối cùng, còn có một phần khác nhau nữa mà khó ai chối cãi; đó là việc người ta học với tốc độ khác nhau - chậm, trung bình, nhanh và cả toàn bộ các biến thiên bên trong mỗi loại tốc độ đó nữa.

- Hiểu được rằng tất cả chúng ta đều học theo những cách khác nhau, bạn sẽ dễ nghĩ rằng người ta cũng sẽ dạy theo những cách khác nhau. Nhưng  xin nhớ lại thời còn đi học: do các trường sắp xếp học sinh theo nhóm, nên khi cả lớp chuyển sang một khái niệm mới thì mọi học sinh cũng chuyển theo, không cần biết có bao nhiêu người đã nắm vững khái niệm trước đó (dù cho đó có thể là điều kiện tiên quyết để hiểu được khái niệm kế tiếp).
Ví dụ, dù chúng ta chưa nắm vững toàn bộ những gì cấn thiết ở môn Đại số 1, thì chúng ta vẫn phải học qua môn Đại số 2. Thậm chí có vài người vẫn chuyển sang học môn kế tiếp cho dù không vượt được môn học bắt buộc trước đó. Trái lại, chẳng ai xem là vấn đề nếu một số học sinh có thể học hết môn Lịch sử thế giới chỉ trong một quý; trong khi tất cả mọi người kẹt trong lớp học đó suốt cả năm. Khi cô giáo lớp 4 dạy phép chia dài ("long division" - theo cách của Anh/Mỹ là phép chia kéo dài thành nhiều bước tính toán với số bị chia và số chia tương đối lớn. vd như 543267/138 - ND) giống với cách trước đây cô đã học và hiểu nhanh nhất, thì có thể chúng ta sẽ thấy dễ hiểu, mà cũng có thể không. Nhưng dù chúng ta hiểu ngay lập tức và phát chán với những giải thích lặp đi lặp lại, hoặc càng lúc càng hoang mang bối rối vì không thể hiểu được logic này, thì chúng ta cũng phải ngồi trong lớp cho đến hết giờ học.

- Tại sao nhà trường lại làm việc theo cách này? Nếu chúng ta đã đồng ý rằng mọi người học theo cách khác nhau, rằng học sinh cần lối học và tốc độ học tùy chỉnh theo cá nhân thì tại sao nhà trường lại tiêu chuẩn hóa cách học và cách thi kiểm tra?
(Còn tiếp)
Trích sách "LỚP HỌC ĐỘT PHÁ" của tác giả Clayton M.Christensen.
- Thầy Võ Quốc Duy -

No comments:

Post a Comment

Hãy thoải mái khi gửi nhận xét và câu hỏi cho chúng tôi. Chân thành cảm ơn!