Tìm kiếm Blog này

Monday, 23 October 2017

TÁC ĐỘNG CỦA NHỮNG NĂM ĐẦU ĐỜI ĐỐI VỚI THÀNH CÔNG CỦA HỌC SINH.


Phần lớn cơ hội để cách mạng hóa giáo dục lại nằm bên ngoài hệ thống giáo dục phổ thông K-12. Nhiều nghiên cứu có giá trị cho rằng, tiến hành những cải tổ này bắt đầu từ cấp mẫu giáo đã là quá trễ (dành cho trẻ từ 4 đến 5 tuổi), chứ chưa nói đến bắt đầu ở bậc tiểu học, trung học cơ sở hay trung học phổ thông. Theo một số đánh giá "98% chi phí cho giáo dục diễn ra sau khi năng lực trí tuệ cơ bản (basic intellectual capacities) của trẻ gần như đã định hình". Có hai lý do chính để chúng ta quan tâm đến vấn đề này:


Thứ nhất, trường học hiện nay được yêu cầu không để cho học sinh nào tuột lại phía sau - như vậy sẽ loại bỏ được sự đói nghèo. Nếu đây là việc phải làm và thực chất những gì xảy ra trước thời điểm trẻ theo học mẫu giáo ảnh hưởng sâu đậm đến viễn cảnh giàu có của trẻ thì chủ đề này đáng được chú ý nhằm cải thiện thành tích của trường học. Thứ hai, các nhà chính trị và những người hoạch định chính sách ngày càng đồng tình hưởng ứng ý tưởng phổ cập giáo dục mầm non chất lượng cao (universal prekiddergarten) như một cơ chế giúp làm tăng cơ hội thành công trong học tập cho trẻ em, lập luận rằng nếu không được học chương trình này thì chúng sẽ không sẵn sàng để đi học. Như sẽ thảo luận sau, chúng tôi kết luận rằng những chương trình như thế này là một cơ chế không hiệu quả để giải quyết vấn đề "trẻ phải được chuẩn bị tốt trước khi đi học". 

- Nếu chúng ta có thể làm tốt những gì cần phải làm trước khi trẻ bắt đầu đi mẫu giáo thì chúng ta sẽ khiến cho công việc của trường học dễ dàng hơn rất nhiều. Chúng ta sẽ xem xét 3 yếu tố cốt lõi cho công việc giáo dục mầm non (preschool) này:
1. Hình thành năng lực trí tuệ từ sơ sinh.
2. Nuôi dưỡng lòng tự trọng - niềm tin cốt lõi của một đứa trẻ về bản thân mình - mạnh mẽ, tích cực. Xây dựng lòng tự trọng là một quá trình suốt đời, nhưng nền tảng của nó được hình thành từ tuổi thơ.
3. Khuyến khích sự tìm tòi học hỏi, điều sẽ trở thành động cơ học tập liên tục suốt đời.

- Chủ đề về những thay đổi nào phải diễn ra trước khi trẻ bắt đầu đi học, nghĩa là trong khoảng thời gian từ 0 đến 4 tuổi, cần đến ít nhất một chuyên luận dài cỡ... một cuốn sách! Trong bài viết ngắn gọn này, chúng tôi chỉ hy vọng cung cấp cho đọc giả một số kết quả quan trọng thu thập được từ nghiên cứu này và giúp cho những nhà hoạch định chính sách và phân bổ ngân sách cho khối giáo dục công sử dụng tiền vào những nơi mà có hiệu quả tối đa, không lãng phí chúng vào những chương trình sẽ thất bại.

- Mảng nghiên cứu đặc biệt này cho chúng ta biết rằng "phần lớn năng lực trí tuệ của một người được định hình trong 36 tháng đầu đời". Hai nhà nghiên cứu hàng đầu về cách hình thành năng lực trí tuệ, Todd Risley và Betty Hart, đã quan sát và ghi chép những tương tác thể chất và ngôn ngữ của một nhóm đại diện lớn gồm cha mẹ và con cái của họ trong hai năm rưỡi đầu đời của đứa trẻ lúc ở nhà. Họ tính toán được rằng trung bình cha mẹ nói 1500 từ trong một tiếng đồng hồ với trẻ sơ sinh. Nhưng đó chỉ là con số trung bình. Những bậc cha mẹ tốt nghiệp đại học và "nhiều chuyện" hơn nói trung bình 2100 từ một giờ với trẻ sơ sinh; trong khi những đứa trẻ sống trong những gia đình mà những nhà nghiên cứu gọi là "những gia đình được trợ cấp" chỉ nghe cha mẹ nói 600 từ với mình trong một giờ. Risley và Hart ước tính rằng khi được 36 tháng, con cái của những phụ huynh có trình độ đại học đã nghe cha mẹ nói khoảng 48 triệu từ với chúng. Ngược lại trẻ em thuộc những gia đình được trợ cấp chỉ nghe được 13 triệu từ. Điều thú vị là những từ quan trọng nhất trong số đó, xét theo mặt thành quả nhận thức sau này, dường như là những từ được cha mẹ nói ra trong những năm đầu đời của con - khi mà không có bằng chứng hữu hình nào cho thấy rằng trẻ có thể hiểu được những gì cha mẹ chúng nói. Trẻ em không có cha mẹ không chịu nói chuyện một cách nghiêm túc với con cái trước khi chúng biết nói (tức là vào khoảng 12 tháng tuổi) luôn luôn bị thua kém về năng lực trí tuệ so với những trẻ có cha mẹ nói nhiều ngay từ đầu.

Những kinh nghiệm trò chuyện khác biệt này có tác động như thế nào? Hart và Risley đã theo dõi thành quả nhận thức của những đứa trẻ trong học tập khi chúng lớn lên. Họ tổ chức một buổi kiểm tra IQ theo thang đánh giá Stanford-Binet cho những đứa trẻ này lúc 3 tuổi và ghi nhận được hệ số tương quan là 0,6 giữa số từ đứa trẻ đã nghe và số lượng từ vựng của trẻ. Khi họ loại bỏ "trao đổi công việc" (business talk) ra khỏi số từ mà trẻ đã nghe và chỉ xem xét những từ họ gọi là "trao đổi thông thường" (extra talk) (sẽ thảo luận bên dưới), hệ số tương quan giữa những từ đã nói với trẻ và IQ đo được của trẻ là 0.78 - dường như là sự tương quan cao nhất đo được một cách đáng tin cậy.

Các nhà nghiên cứu tiếp tực theo dõi những đứa trẻ khi chúng đi học. Sự tương quan giữa khối lượng trao đổi thông thường trước khi trẻ được 3 tuổi và điểm số của chúng trong bài kiểm tra từ vựng Peabody Picture được dùng cho trẻ 9 tuổi (ở lớp 3) là 0,77. Có một sự tương quan chặt chẽ và được minh chứng giữa sự phong phú về từ vựng và thành tích trong những bài kiểm tra đọc hiểu.

NGÔN NGỮ NHẢY MÚA

Vậy "trao đổi thông thường" là gì mà có mối liên kết chặt chẽ đến vậy với khả năng tiếp thu của trẻ? Hart và Risley đã quan sát hai kiểu trò chuyện diễn ra giữa cha mẹ và các em bé dưới 1 tuổi trong nghiên cứu của họ. Những bậc cha mẹ mà họ mô tả là "lầm lì ít nói" thường hạn chế những cuộc trò chuyện của họ với con cái ở mức độ "công việc" - những câu nói liên quan đến những gì cần phải làm. "Ăn hết đi", "Đưa tay ra", "Lên xe đi nào", và "Đến giờ đi ngủ rồi", là những ví dụ của những trao đổi công việc. Những trao đổi công việc với trẻ dưới 1 tuổi không phong phú hay phức tạp; chúng là những câu nói đơn giản, trực tiếp, ngay tại chỗ. Như đã nói ở trên, tác động của những tương tác "công việc" đến sự phát triển nhận thức là tương đối hạn chế.

Những từ thật sự có ý nghĩa là những từ được nói trong một bối cảnh mà Hart và Risley gọi là "ngôn ngữ nhảy múa" (language dancing) khi mà cha mẹ giao tiếp đối mặt với trẻ và nói chuyện bằng thứ ngôn ngữ hoàn toàn của người lớn, phức tạp, sống động - cứ như là đứa trẻ đang lắng nghe, hiểu và hoàn toàn đáp lại những lời nói đó. Ngôn ngữ nhảy múa có thể diễn ra khi đang đẩy xe mua sắm, trong khi gấp quần áo, khi cho trẻ ăn, khi đang thay tã, hoặc khi đang ôm ấp trẻ. Đó là những cuộc trò chuyện người lớn riêng tư, có suy nghĩ cân nhắc, không bị dàn xếp.

Ngôn ngữ nhảy múa không nói nhiều về công viêc. Nó nói về "chuyện gì sẽ xảy ra nếu", "con có nhớ", "mẹ nghĩ con nên", "liệu sẽ tốt hơn không nếu...", và đại loại như vậy. Những kiểu nói chuyện này thường mang hình thức câu hỏi mà sẽ gợi mở cho trẻ suy nghĩ sâu sắc về những gì đang xảy ra quanh chúng. Ngôn ngữ nhảy múa gắn liền với sự sống động, nghĩ gì nói đó, và nhận xét về những gì đứa trẻ đang làm và về những gì cha mẹ đang làm và đang lên kế hoạch. Sự đối thoại kiểu này được minh chứng là sẽ nuôi dưỡng tính hiếu kỳ của trẻ.

Nếu số từ vựng nói với trẻ em quyết định phần lớn vốn từ vựng và khả năng nhận thức của chúng thì liệu những bậc phụ huynh bận rộn có thể chỉ cần đơn giản bật tivi và đặt con nằm trước màn hình được không? Hay là để trẻ ngồi kế bên khi đang dự một buổi họp ở công ty? Không phải, sẽ không dễ dàng như vậy đâu! Kiểu "âm thanh nền" có tác động không đáng kể đến trí tuệ của trẻ.

Những học giả khác đã minh chứng rằng yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến kỹ năng đọc của trẻ chính là kỹ năng xử lý những gì nghe được. Mà đó chính là kỹ năng được mài giũa khi trẻ lắng nghe cha mẹ nói chuyện với mình bằng thứ ngôn ngữ người lớn phức tạp.

Khoa học thần kinh và ngôn ngữ nhảy múa

Có một sự liên kết chặt chẽ giữa những gì mà các nhà khoa học thần kinh đang nghiên cứu về cách hoạt động của não bộ với những quan sát về việc trao đổi thông thường, hay ngôn ngữ nhảy múa, giúp phát triển sự sắc bén của kỹ năng nghe, điều mà sau này dẫn đến khả năng học tập hoàn thiện. Não của chúng ta có từ 80 đến 100 tỉ neuron, hay còn gọi là tế bào não, ngày đêm trao đổi thông tin với nhau. Mỗi neuron có một axon - sợi trục thần kinh, là một dây hình ống đơn chịu trách niệm gửi tín hiệu, và những đuôi gai (dendrites) gồm nhiều nhánh cấu tạo như một cái cây có hình dáng giống như "găng tay bóng chày" ở cuối mỗi nhánh, chịu trách nhiệm thu nhận tín hiệu. Nơi mà axon của một neuron tạo ra một liên kết chức năng với đuôi gai của một neuron kế bên được gọi là khớp thần kinh (synapse). Đây là nơi diễn ra hầu như tất cả những hoạt động quan trọng của não bộ.

Khi một tế bào giao tiếp với một tế bào khác, nó sẽ gửi một tín hiệu điện qua axon đến một trong những nhánh nhỏ hay đầu cuối của sợi trục thần kinh có vị trí gần với những đuôi gai của một tế bào kế bên. Tại khớp thần kinh giữa axon truyền tín hiệu và đuôi gai nhận tín hiệu, tín hiệu điện phóng thích các chất hóa học được gọi là chất dẫn truyền thần kinh (neurotransmitters). Tế bào kế bên nhận thông điệp nếu và khi những chất dẫn truyền thần kinh này được phát hiện bởi và tiếp xúc với các thụ thể trên đuôi gai của nó.

Một khối lượng bằng chứng đáng kể cho thấy rằng khi đường dẫn truyền qua synapse (synaptic pathway) giữa bất kỳ 2 tế bào hoặc hệ thống tế bào nào đó được kích hoạt lặp đi lặp lại, thì những neuron đó sẽ "liên kết" với nhau, do vậy khi một neuron hoạt động thì những neuron khác có khuynh hướng trở nên tích cực. Các nhà khoa học tin rằng sự đồng kích hoạt lặp đi lặp lại của những tế bào liên kết sẽ tạo ra những thay đổi vật lý trong những khớp thần kinh, để các tế bào thần kinh có thể bắn tín hiệu xuyên qua khớp thần kinh hiệu quả hơn trước khi sự kết nối được định hình. Trái lại, khi hai tế bào không có thói quen trao đổi tín hiệu cho nhau thì khoảng trống giữa chúng, được gọi là khe khớp thần kinh (synaptic cleft), hoạt động không hiệu quả lắm. Các tín hiệu có thể bị mất.

Khi cha mẹ thực hiện việc trao đổi thông thường - nói khoảng 48 triệu từ với con trong 36 tháng đầu đời của chúng - sẽ có rất nhiều đường dẫn truyền qua synapse trong não của trẻ được luyện tập và tinh luyện. Điều này làm cho các mô hình suy nghĩ sau này trở nên dễ dàng hơn, nhanh hơn, tự động hơn. Nhiệm vụ nhận thức chính của trẻ là phát triển và sử dụng các đường dẫn truyền qua synapse, điều sẽ hỗ trợ quá trình suy nghĩ của chúng. Một đứa trẻ được nghe 48 triệu từ trong ba năm đầu đời sẽ không chỉ có những kết nối synapse trong não bộ được bôi trơn nhiều gấp 3,7 lần so với một đứa trẻ chỉ được nghe 13 triệu từ, mà mỗi tế bào não còn có thể được kết nối với hàng trăm tế bào khác bởi nhiều khớp thần kinh, số này có thể lên tới con số 10.000. Điều này có nghĩa là những đứa trẻ được trải nghiệm nhiều trao đổi thông thường có lợi thế nhận thức cực lớn so với những đứa trẻ khác. Não của chúng đã được "lên dây cót" để suy nghĩ theo những cách phức tạp hơn so với những đứa trẻ có những đường dẫn truyền synapse không được phát triển và bôi trơn bằng việc liên tục sử dụng.

Lòng tự trọng cao là nền tảng tạo dựng sự tự tin cho trẻ, điều mà chúng cần để xử lý thành công những thách thức khó khăn trong học tập cũng như những vấn đề trong cuộc sống. Khi những đứa trẻ có năng lực nhận thức được mở rộng, như mô tả ở trên, phải đối mặt và thành công trước những thử thách học tập đầu tiên mà chúng gặp phải ở trường, sự nhận biết của chúng về năng lực bản thân - sự thích thú và sự tự tin về khả năng thành công của bản thân trước những nhiệm vụ học tập khó khăn - có thể nảy nở. Khi trẻ đến trường mà không có sự chuẩn bị này thì những kinh nghiệm học tập đầu đời sẽ chỉ gồm những khó khăn và thất bại, điều sẽ phá hoại lòng tự trọng và khiến việc học hành sau này dường như đáng sợ và không có gì là thú vị.

MỘT TRƯỜNG HỢP VỀ CÁI VÒNG LUẪN QUẨN CỦA NHIỀU THẾ HỆ.

Chúng ta có lẽ sẽ đi đến một kết luận đáng sợ, dựa trên tập hợp những kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học thần kinh và cách phát triển năng lực nhận thức trong giai đoạn sơ sinh: con cái của những gia đình ở thành phố có thu nhập thấp, học vấn thấp, bị mắc kẹt trong vòng nghèo khổ và học hành kém qua nhiều thế hệ. Nếu cha mẹ không thực hành  những trao đổi thông thường (extra talk) phức tạp của người lớn thì con cái họ sẽ bắt đầu việc học tập ở thế kém cỏi nghiêm trọng và tụt lại phía sau từ đó. Tiếp đó, sự tự tin và hăng hái học tập của trẻ sẽ bị tiêu tan, vì vậy khi chúng trở thành cha mẹ, chúng sẽ tạo ra những bất lợi tương tự cho con cái của chúng. Đây là một lời giải thích khá hợp lý tại sao việc cải thiện các trường học ở trung tâm thành phố dường như là một vấn đề vô vọng.

"Ba năm đầu đời là vô cùng quan trọng trong cuộc sống, bởi lẽ trẻ nhỏ lệ thuộc tuyệt đối vào người lớn về mặt nuôi nấng và ngôn ngữ," Hart viết trong một bài báo trên New York Times. "Khi trẻ được 4 tuổi, điều tốt nhất có thể mong chờ từ giáo dục hay các chương trình can thiệp là giữ cho những trẻ kém may mắn không bị tụt lại xa hơn nữa." Thực ra, 80% sự khác biệt giữa các học sinh trong thành tích học tập ở trường công là từ phía gia đình, như đã được tóm tắt ở trên, chứ không phải từ phía nhà trường.

Nhưng vẫn còn hy vọng. Một trong những kết quả quan trọng nhất trong nghiên cứu của Risley và Hart là mức thu nhập, yếu tố sắc tộc, và trình độ học vấn của cha mẹ không hề quyết định mức độ khả năng nhận thức mà trẻ đạt được. Tất cả được lý giải bằng khối lượng ngôn ngữ nhảy múa, hoặc trao đổi thông thường hơn là trao đổi công việc, mà cha mẹ đã thực hiện trong những năm đầu đời của con cái. Những điều này giải thích hoàn toàn cho mọi khác biệt trong kết quả học tập...

Risley tóm tắt: "Nói cách khác, một số người thuộc tầng lớp lao động nghèo nói chuyện với con cái họ rất nhiều và con cái họ rất giỏi giang. Một số doanh nhân giàu có lại rất ít nói chuyện với con cái của họ và những đứa trẻ đó rất kém cỏi... Và cũng không có khác biệt đối với yếu tố sắc tộc. Tất cả sự biến thiên trong kết quả học tập được tăng lên do số lượng nói chuyện trong gia đình với các em bé trước ba tuổi."

PHẢI LÀM GÌ

Nếu như mối quan hệ nhân quả như đã nói ở trên nhìn chung là đúng, thì rõ ràng là một số chính sách công và sáng kiến về luật lệ có chủ ý tốt nhưng không đúng. Chúng dựa vào sự tương quan chứ không phải vào mối quan hệ nhân quả. Ví dụ, Thống đốc bang Massachusetts là Deval Patrick đã xem chương trình phổ cập mầm non chất lượng cao (universal preschool) như vấn đề trọng tâm trong chương trình hành động của ông nhằm cải thiện giáo dục công. Và ông đã không lẻ loi. Những đề xuất tương tự cũng đang được xem xét cẩn thận ở một vài bang khác. Lý do cơ bản dường như rõ ràng: với những cách biệt về mức độ được chuẩn bị khi trẻ bắt đầu đi học mẫu giáo, có lẽ nếu bắt đầu giảng dạy cho những em kém may mắn sớm hơn thì chúng ta có thể loại bỏ được một số cách biệt trong việc chuẩn bị cho trẻ đến trường. Tương tự, chương trình Head Start được khởi xướng bởi tổng thống Lyndon Johnson cũng rất có chủ đích. Vấn đề với những chương trình này là trừ khi chúng thuê cho mỗi một đứa trẻ này một người cha hoặc mẹ thay thế, những người có bản năng và khuynh hướng tham gia vào việc nhảy múa với ngôn ngữ cùng trẻ trong hàng trăm giờ đồng hồ, còn không thì chuyện này sẽ chẳng có kết quả. Thực ra, phần lớn ngôn ngữ người lớn được dùng với trẻ trong các chương trình mẫu giáo, do cần thiết đều mang tính chất "công việc" (business talk). Những chương trình như vậy sẽ tiêu tốn hàng tỷ dollar, và chúng tôi tiên đoán rằng chúng chỉ có hiệu quả không đáng kể.

Ngay cả những bậc cha mẹ có học vấn cao, có động lực để làm những gì tốt nhất cho con cái của mình vẫn thường không hiểu rõ rằng việc đàm thoại hoàn toàn như với người lớn trong những năm đầu đời của trẻ sẽ có tác động lên khả năng nhận thức nền tảng của chúng. Những chuyên gia làm nhiệm vụ tư vấn cho các bậc phụ huynh cũng không hiểu rõ chuyện này. Ví dụ, Viện Nhi khoa Mỹ (America Academy of Pediatrichs) phát hành một ấn bản hàng tháng để các bác sĩ nhi khoa gửi cho các bậc cha mẹ mới có con trong suốt hai năm đầu đời. Ấn bản này thậm chí không hề đề cập đến tầm quan trọng của việc nói chuyện với các em bé trước 1 tuổi, thời điểm mà trẻ bắt đầu nói chuyện với cha mẹ.

Thay vì tài trợ cho các chương trình thuê mướn người thay thế (cha mẹ không thành công trong việc trò truyện cùng trẻ ở lứa tuổi trước khi đi học, nên cần người thay thế), chúng ta có thể thu được hiệu quả cao hơn nếu dạy cho học sinh cách trở thành cha mẹ trước khi chúng lập gia đình và có con cái. Trong quá khứ, những khóa học như nữ công gia chánh, sửa xe, nghề mộc, nghề tiện v.v... được đưa vào chương trình học ở hầu hết các trường trung học để chuẩn bị cho thanh thiếu niên ít nhất một số kỹ năng của người lớn. Trường trung học hoàn toàn có thể là nơi để dạy các khóa học về các phương pháp phát triển nhận thức sơ khai cho những bậc cha mẹ của tương lai. Lợi ích có thể là rất lớn. Những bà mẹ trẻ, đơn thân, sống ở trung tâm thành phố, những người mà lẽ ra sẽ bị mắc kẹt với những đứa trẻ của mình trong vòng luẫn quẩn đói nghèo và ít học nhiều thế hệ, dĩ nhiên sẽ hưởng lợi từ việc biết cách định hình những hành động giao tiếp ban đầu với con cái của mình để giúp chúng thành công ở trường học. Việc này cũng có thể giúp những cặp vợ chồng làm việc toàn thời gian. Những người lần đầu làm cha làm mẹ thường mong muốn trở lại làm việc sau khi sinh con đến nỗi họ trao con cho những người giữ trẻ phải cùng lúc chăm sóc nhiều bé (dó đó người giữ trẻ không có nhiều thời gian để trò chuyện với chúng, trừ những cuộc nói chuyện "công việc"). Có lẽ một khóa học như thế này ở trung học sẽ giúp họ có được những lựa chọn có hiểu biết hơn.

Hai câu nói được cho là của Albert Einstein phù hợp với chủ đề này. Câu thứ nhất là "Những vấn đề quan trọng mà chúng ta gặp phải không thể được giải quyết với cùng một mức độ tư duy mà chúng ta sử dụng để tạo ra chúng." Phát biểu thứ hai là một ý mà Einstein được cho là đã nói khi định nghĩa sự điên rồ: "làm đi làm lại một việc và hy vọng có những kết quả ... khác nhau". Chúng ta đã không thèm đếm xỉa đến vấn đề chuẩn bị làm cha mẹ hàng thập kỷ. Đây là một vấn đề tồi tệ đang gây tai hại cho rất nhiều gia đình. Nếu chúng ta không thay đổi mức độ tư duy để xử lý những vấn đề mang tính hệ thống của trường học và tiếp tục tin rằng cách giải quyết chỉ đơn giản là cải tạo trường học, thì chúng ta sẽ chẳng bao giờ thành công.


Trích sách "LỚP HỌC ĐỘT PHÁ" của tác giả Clayton M.Christensen.
- Thầy Võ Quốc Duy -

No comments:

Post a Comment

Hãy thoải mái khi gửi nhận xét và câu hỏi cho chúng tôi. Chân thành cảm ơn!